Địa chỉ:

Thôn Tử Dương, Xã Chương Dương, Thành phố Hà Nội

CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VẬN TẢI THÀNH LONG

Giá vật liệu xây dựng tăng mạnh tại nhiều tỉnh, thành

Thứ Năm, 04/06/2026
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VẬN TẢI THÀNH LONG

Các nội dung chính [Ẩn]

Trong những tháng gần đây, thị trường vật liệu xây dựng (VLXD) ghi nhận xu hướng tăng giá mạnh mẽ tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Các mặt hàng chủ lực như thép, xi măng, cát, đá và gạch đồng loạt điều chỉnh tăng từ 5 – 20% so với cùng kỳ năm trước. Thực trạng này đang tạo ra áp lực tài chính rất lớn lên các nhà thầu, doanh nghiệp xây dựng lẫn các hộ gia đình có nhu cầu xây sửa nhà cửa.

Theo các chuyên gia, nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng này bao gồm: chi phí nguyên liệu đầu vào tăng cao, giá năng lượng leo thang, chuỗi cung ứng bị gián đoạn gây khan hiếm cục bộ, cùng với đó là nhu cầu xây dựng phục hồi mạnh tại các đô thị lớn và vùng ven. Dự báo trong ngắn hạn, giá các mặt hàng này sẽ tiếp tục giữ ở mức cao do các yếu tố cung – cầu chưa thực sự ổn định.

Diễn biến thị trường VLXD tại hai đô thị lớn Hà Nội và TP.HCM

Tại Hà Nội, mặt bằng giá VLXD đang neo ở mức rất cao. Theo công bố từ Sở Xây dựng Hà Nội, giá cát vàng hiện dao động từ 550.000 - 700.000 đồng/m³, cát đen từ 240.000 - 350.000 đồng/m³ tùy thuộc vào vị trí và chi phí vận chuyển. Đá dăm 1x2 phổ biến ở mức 420.000 - 520.000 đồng/m³; gạch đất nung từ 1.450 - 1.750 đồng/viên. Đáng chú ý, giá thép xây dựng đã tăng khoảng 1.500 - 2.000 đồng/kg so với năm ngoái; cụ thể thép cuộn CB240 đạt 15,1 - 15,5 triệu đồng/tấn và thép thanh vằn D10 CB300 khoảng 15,3 - 15,8 triệu đồng/tấn.

Tại TP.HCM và khu vực Đông Nam Bộ, đà tăng giá càng rõ nét hơn do nhu cầu phục vụ các dự án hạ tầng lớn như đường vành đai và cao tốc. Cát san lấp tại TP.HCM hiện có giá 280.000 - 350.000 đồng/m³ (tăng 20 - 30% so với đầu năm 2025), trong khi cát bê tông có thời điểm vượt ngưỡng 700.000 đồng/m³. Tại Đồng Nai và Bình Dương, giá đá xây dựng cũng leo dốc mạnh, đá 1x2 tại Đồng Nai dao động từ 480.000 - 650.000 đồng/m³, thậm chí vượt 700.000 đồng/m³ khi giao đến công trình do các mỏ đá đang hoạt động hết công suất vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu thực tế.

Áp lực nguồn cung lan rộng tới miền Tây và khu vực Bắc Trung Bộ

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng đang đối mặt với bài toán khan hiếm và áp lực chi phí logistics. Tại các điểm nóng như Đồng Tháp, Cao Lãnh, Hồng Ngự, giá cát san lấp giao tại công trình đã lên tới 350.000 - 420.000 đồng/m³; cát bê tông và cát xây tô dao động từ 450.000 - 650.000 đồng/m³ vì nguồn khai thác hợp pháp bị thắt chặt. Ngoài ra, đá 1x2 giữ giá 420.000 - 560.000 đồng/m³ và thép xây dựng phổ biến từ 15,2 - 15,9 triệu đồng/tấn.

Tại Bắc Trung Bộ, việc thi công các trục cao tốc cũng đẩy giá vật liệu lên cao. Ở Nghệ An, giá đất đắp nền đã tăng mạnh từ mức 90.000 - 120.000 đồng/m³ lên 140.000 - 180.000 đồng/m³. Tại Thanh Hóa, đá 1x2 dao động từ 400.000 - 550.000 đồng/m³ và đá base nền đường từ 320.000 - 450.000 đồng/m³. Các nhà thầu tại đây không chỉ lo ngại về giá mà còn gặp khó trong khâu thủ tục cấp phép mỏ và năng lực cung ứng chưa kịp tiến độ giải ngân đầu tư công.

Giá thép và nhóm vật liệu hoàn thiện liên tục lập mặt bằng mới

Đối với thị trường thép xây dựng, xu hướng tăng giá diễn ra đồng bộ trên quy mô toàn quốc. Số liệu từ Hiệp hội Thép Việt Nam cho thấy, từ đầu năm 2026 đến nay, các doanh nghiệp thép đã trải qua từ 4 – 6 đợt điều chỉnh tăng giá do tác động của giá quặng sắt và than luyện cốc thế giới. Giá thép xây dựng chi tiết tại các khu vực hiện như sau:

  • Miền Bắc: Dao động từ 15,1 - 15,8 triệu đồng/tấn.
  • Miền Trung: Phổ biến từ 15,3 - 15,9 triệu đồng/tấn.
  • Miền Nam (gồm TP.HCM): Dao động từ 15,4 - 16 triệu đồng/tấn.

Song song đó, nhóm gạch, ngói và vật liệu hoàn thiện cũng neo ở mức cao do gánh nặng chi phí nhiên liệu sản xuất và vận chuyển. Gạch đất nung tại Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Giang có giá từ 1.350 - 1.700 đồng/viên; gạch không nung từ 1.200 - 1.500 đồng/viên. Mặt hàng ngói lợp tại miền Bắc cũng dao động từ 14.000 - 24.000 đồng/viên tùy thương hiệu. Các nhà sản xuất thừa nhận, dù phân khúc bất động sản dân dụng chưa hồi phục hoàn toàn nhưng lực cầu lớn từ các dự án đầu tư công chính là động lực giữ giá VLXD ở mức cao.

Khuyến nghị định hướng dòng tiền và kế hoạch thi công

Các chuyên gia dự báo mặt bằng giá VLXD sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao ít nhất là đến hết quý III/2026 nếu chi phí đầu vào và cước vận tải không hạ nhiệt. Để giảm thiểu rủi ro tài chính và tránh ảnh hưởng đến tiến độ, các chủ đầu tư, doanh nghiệp xây dựng và người dân cần rà soát, tính toán kỹ lưỡng kế hoạch tài chính, quản lý chặt chẽ chi phí thi công và theo dõi sát sao mọi diễn biến từ thị trường.

Theo Buildata

Hotline Chat zalo Messenger